Eli Harold Jersey Điều trị ung thư
  Đang tải... Vui lòng chờ trong giây lát...

Danh mục sản phẩm

Nhận tin tức


Điều trị ung thư

Giải pháp cho bệnh ung thư cổ tử cung
Cùng với sự gia tăng của các bệnh tim mạch, tiểu đường, tâm thần, ung thư cũng là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người, trong đó tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung đang ngày một nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe phụ nữ.

Bên cạnh những phương pháp điều trị bằng thuốc, phẫu thuật, hóa chất hay xạ trị, liệu pháp dự phòng ung thư cổ tử cung bằng vaccin tạo ra những kết quả khả quan, mở ra một cơ hội mới, hiệu quả trong việc phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm này.

Sự nguy hiểm của ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là bệnh hay gặp ở phụ nữ, đứng sau ung thư vú. Hằng năm trên thế giới có khoảng 470.000 trường hợp mắc mới được ghi nhận, trong đó 80% là ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta. GS.TS. Nguyễn Bá Đức, Đại học Y Hà Nội cho biết, sự xuất hiện và phát triển của ung thư cổ tử cung trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, nếu phát hiện và điều trị sớm có thể kéo dài sự sống hoặc nâng cao tỷ lệ khỏi cho người bệnh.

Theo GS. Đức, ở giai đoạn đầu tiên, khi các tế bào ung thư cổ tử cung mới xuất hiện chưa có biểu hiện xâm lấn thì khó phát hiện bằng khám lâm sàng, hầu hết các bệnh nhân thời kỳ này đều có khí hư nhiều hơn bình thường. Đến giai đoạn xuất hiện sự xâm lấn các tế bào ung thư thì khí hư có mùi hôi, bệnh nhân có biểu hiện ra máu giữa các kỳ kinh, ra máu sau giao hợp, ra máu sau thời kỳ mãn kinh, xuất hiện các u sùi loét ở cổ tử cung, những vùng tổn thương trợt loét chạm vào dễ chảy máu. Tiếp theo đó, các tế bào ung thư xâm nhập vào âm đạo, khung chậu, bàng quang, trực tràng, chèn ép niệu quản gây vô niệu lâu ngày dẫn đến suy thận. Sau đó ung thư lan tới các tạng trong vùng chậu hông rồi di căn xa tới các bộ phận khác như: gan, phổi... Tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời đều tử vong.

Thủ phạm của ung thư cổ tử cung

 

Có thể bạn chưa biết

Trong số 140 loại HPV chỉ có 13 loại gây ung thư cổ tử cung. Sau khi xâm nhập vào các tế bào của cổ tử cung, chúng làm biến đổi các tế bào này, qua thời gian các tế bào này chuyển thành ác tính.

Theo các nhà chuyên môn, tất cả phụ nữ có quan hệ tình dục đều có nguy cơ mắc phải căn bệnh này. Tuy nhiên nhóm có nguy cơ cao là những người có quan hệ tình dục sớm, có nhiều bạn tình (kể cả vợ hoặc chồng), vệ sinh sinh dục kém, sinh đẻ nhiều lần, nhiễm virus gây u nhú ở người HPV (human papilloma virus), herpes virus. Trong đó nhiễm HPV là nguyên nhân chính, đặc biệt là các type 6, 11, 16 và 18. Đây là loại virus chủ yếu lây truyền qua đường tình dục.

Việc phát hiện sớm nhiễm các HPV liên quan đến ung thư cổ tử cung là rất cần thiết để phòng ngừa và điều trị hiệu quả căn bệnh này. Mới đây, người ta đã dùng phương pháp sinh học phân tử tìm ADN để kiểm tra người phụ nữ có bị nhiễm bất kỳ loại nào trong 13 loại HPV nói trên, phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi kết hợp với xét nghiệm tế bào âm đạo (Pap). Khi xét nghiệm sinh học phân tử cho kết quả dương tính với HPV và xét nghiệm Pap cho thấy nếu tế bào có sự biến đổi dù nhẹ thì người bệnh cũng cần được điều trị tích cực. Trong trường hợp chỉ nhiễm HPV gây ung thư và xét nghiệm Pap bình thường cũng nên được theo dõi chặt chẽ diễn biến tiếp theo của bệnh.

Điều trị ung thư cổ tử cung bằng cách nào?

Để điều trị ung thư cổ tử cung, người ta đang áp dụng nhiều kỹ thuật điều trị, ứng với mỗi giai đoạn khác nhau của bệnh. ở giai đoạn chưa xâm lấn, bệnh nhân có thể điều trị bằng đốt điện, đốt lạnh, khoét chóp cổ tử cung bằng dao điện hình vòng. Người bệnh cũng có thể lựa chọn cắt toàn bộ tử cung nếu muốn. Khi các tế bào ung thư có sự xâm lấn có thể sử dụng các biện pháp hóa liệu, xạ trị áp sát hoặc tia xạ đơn thuần. Trong nhiều trường hợp phải chỉ định phẫu thuật để nạo vét những phần bị tổn thương và kết hợp đồng thời các phương pháp khác mới đem lại hiệu quả.

Quan hệ tình dục an toàn, sinh đẻ ít, vệ sinh sinh dục... Điều trị sớm và triệt để các viêm nhiễm, nhất là các bệnh do virus gây ra ở cơ quan sinh dục như herpes, sùi mào gà. Hiện nay đã có vaccin phòng ung thư cổ tử cung và đã được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vaccin này không chỉ phòng ngừa được ung thư cổ tử cung mà còn ngăn chặn sự xuất hiện của u nhú sinh dục, ung thư âm hộ, âm đạo. Các nhà ung thư và dự phòng khuyến cáo có thể tiêm phòng vaccin này cho các bé gái vào độ tuổi dậy thì (11, 12 hoặc 13 tuổi). Trước khi tiêm nên có xét nghiệm HPV, bé gái và phụ nữ nên được tiêm phòng bất kể có hay từng có 1 kết quả Pap bất thường, một thử nghiệm HPV dương tính hay mụn cóc sinh dục.

Lê Hảo



Ung thư tăng nhanh ở người trẻ tuổi
Các thống kê của BV K gần đây cho thấy, nữ thanh niên bị ung thư vú, cổ tử cung, buồng trứng... đang có xu hướng gia tăng so với các nước trên thế giới ở phụ nữ trẻ chưa có gia đình, trong khi trước đây bệnh này được xem là rất hiếm gặp ở lứa tuổi dưới 30.

Trải qua ba đợt điều trị bằng hóa chất tại Bệnh viện (BV) K (Hà Nội) nhưng Hoàng Thanh Ng. (19 tuổi, ở Hải Phòng) vẫn chưa hết bàng hoàng bởi căn bệnh ung thư vú. Điều khiến Ng. đau khổ hơn cả, không phải ở mái tóc rụng, gương mặt nhợt nhạt, nước da xám khô sau đợt điều trị hóa chất mà là nỗi mặc cảm về thân thể thiếu nữ không lành lặn cũng như nỗi lo sợ căn bệnh quái ác sẽ quay trở lại. Trước đó, Ng. đã phải chấp nhận cắt bỏ một bên ngực vì bệnh ung thư vú.

Dậy thì sớm có nhiều nguy cơ bị ung thư

TS Nguyễn Văn Thuấn, Phó Giám đốc BV K, cho biết ung thư vú không chỉ là nỗi lo của phụ nữ lớn tuổi mà hiện đã tấn công sang cả phụ nữ trẻ, những người chưa lập gia đình. Các thống kê của BV K gần đây cho thấy, nữ thanh niên bị ung thư vú, cổ tử cung, buồng trứng... đang có xu hướng gia tăng so với các nước trên thế giới ở phụ nữ trẻ chưa có gia đình, trong khi trước đây bệnh này được xem là rất hiếm gặp ở lứa tuổi dưới 30. Có tới 70% bệnh nhân ung thư vú đến viện khi đã ở giai đoạn muộn, bệnh đã có biểu hiện di căn hạch hoặc di căn xa. Theo các thống kê khác, tỉ lệ thanh niên mắc ung thư vòm họng, ung thư da, ung thư tinh hoàn cũng tăng nhanh ở độ tuổi 15- 20. Theo TS Thuấn, trước tình trạng này, Viện Nghiên cứu Ung thư (BV K) và Hiệp hội Phòng chống ung thư Hoa Kỳ đang tiến hành một số nghiên cứu để tìm hiểu rõ hơn về nguyên nhân.

Theo TS Thuấn, 80% căn bệnh ung thư là do tác động của yếu tố môi trường, dưới 5% là do gien di truyền. Việc hút thuốc lá, uống rượu, ăn nhiều chất béo, thức ăn nhanh, đồ hộp nhiều chất bảo quản... cũng là nguyên nhân khiến bệnh tăng nhanh. Ngoài ra, các bác sĩ cũng cho rằng việc dậy thì sớm (hành kinh trước 12 tuổi) cũng dễ bị các loại ung thư tấn công, nhất là ung thư vú, ung thư dạ con, ung thư buồng trứng.

GS-TS Nguyễn Bá Đức, Giám đốc BV K, cho biết có nghiên cứu cho thấy, phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai phối hợp và liên tục có tăng nguy cơ ung thư vú giai đoạn 10 năm sau đó. Ngoài ra, nguy cơ ung thư cổ tử cung, buồng trứng thường xảy ra ở phụ nữ quan hệ tình dục trước tuổi 18 hoặc những người quan hệ với nhiều bạn tình, sẩy thai, nạo hút nhiều lần.

Phát hiện sớm vẫn khó điều trị

Các bác sĩ cảnh báo, ở giới trẻ khi bị phát hiện ung thư, việc điều trị thường khó khăn hơn rất nhiều, ngay cả khi phát hiện và điều trị sớm. TS Thuấn lý giải, thông tuổi càng trẻ tế bào ung thư có xu hướng ác tính cao hơn người cao tuổi. Chẳng hạn ở người già, thời gian để một khối u có kích thước tăng gấp đôi thường dài trong khi người trẻ ngắn hơn nhiều. Các bác sĩ cũng thường gặp khó khăn khi điều trị cho người trẻ tuổi bởi những áp lực tâm lý thường nặng nề hơn, nhất là họ phải đối mặt với các bệnh ung thư có liên quan tới giới như ung thư vú, buồng trứng, cổ tử cung, tinh hoàn...

Theo TS Thuấn, đối với những người trẻ, đặc biệt là người chưa lập gia đình nếu bị ung thư buồng trứng, các bác sĩ phải cân nhắc rất kỹ để đưa ra phác đồ điều trị ưu việt nhất cho người bệnh, làm sao lấy được khối u nhưng vẫn bảo tồn dạ con và buồng trứng để có thể sinh con sau này. “Tất nhiên với những trường hợp này đôi khi phải chấp nhận nguy cơ bệnh tái phát hoặc di căn”- TS Thuấn cho biết.

Bài và ảnh: Lê Thanh



Ung thư cổ tử cung gây tử vong vì ít có triệu chứng
Là bác sĩ, vốn được trang bị đầy đủ kiến thức y khoa để nhận biết bệnh, nhưng chị Hoa không ngờ mình lại mắc chứng ung thư cổ tử cung. Trước đó, chị không hề có cảm giác đau đớn hay biểu hiện khác thường.

Có thai đến tháng thứ 6, thi thoảng chị Hoa thấy xuất huyết cửa mình, tưởng chỉ là triệu chứng dọa sinh non do thường xuyên vận động nên chị không thăm khám mà chỉ hạn chế đi lại. Đến khi phát hiện máu có kèm mủ, thì kết quả chẩn đoán đã xác định, vết ung thư ở cổ tử cung đã lan xuống âm đạo và di căn vào phổi. Sinh con được 3 tháng, chị Hoa qua đời ở tuổi 32.

 

Điều trị gần 2 tháng tại khoa xạ trị, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, chị Dung, giáo viên dạy văn một trường chuyên tại TP HCM vẫn chưa hết bàng hoàng trước kết quả xét nghiệm ung thư.

"Tôi thực sự sốc khi bác sĩ thông báo tôi bị ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn, bởi ngay lúc này đây, tôi chỉ cảm thấy hơi mệt mỏi, không ăn được. Chỉ tiếc là trước đây tôi ít chịu thăm khám phụ sản định kỳ", chị Dung nói trong nước mắt.

Một trường hợp khác là chị Hồng, 55 tuổi, quê ở Nam Định. Mãn kinh 7 năm, chị thấy mệt mỏi, không ăn uống được và thi thoảng xuất huyết âm đạo. Nghĩ là những biểu hiện của phụ nữ ở tuổi mãn kinh nên chị chủ quan không khám. Tình trạng kéo dài hơn 2 tháng, khi tới Bệnh viện K khám thì tình trạng ung thư cổ tử cung của chị đã vào giai đoạn cuối.

 

Trao đổi với VnExpress.net, bác sĩ Lê Thị Kiều Dung, Đại học Y Dược TP HCM, khẳng định, khó nhận biết do không gây đau và không có những dấu hiệu khác lạ chính là đặc điểm nguy hiểm nhất của căn bệnh này.

 

Tại Việt Nam, ước tính cứ 100 nghìn phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh và 11 trường hợp tử vong.

Bác sĩ Dung cho biết, nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung là loại virus có tên Human papillomavirus (viết tắt: HPV). Virus này thường gây nhiễm ở phụ nữ có độ tuổi từ 30 đến 60 đã qua quan hệ tình dục.

Các xét nghiệm gần đây, cho thấy, HPV có mặt trong 99,7% các trường hợp ung thư cổ tử cung. Virus này có 150 chủng khác nhau, trong đó khoảng 40 chủng lây truyền qua đường tình dục và có thể gây nên tổn thương ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung và dương vật… Đặc biệt, chủng 16 và 18 là thủ phạm gây ung thư cổ tử cung.

"HPV dễ bị lây nhiễm hơn cả HIV, bởi ngoài lây truyền qua đường tình dục, virus này nhiễm trực tiếp qua da trong những trường hợp dùng chung quần áo, dụng cụ cắt móng tay… Tại Viêt Nam, mỗi ngày có 17 phụ nữ được chẩn đoán ung thư cổ tử cung và 9 người chết vì căn bệnh này", bác sĩ Dung cho biết.

Từ các nghiên cứu thực tiễn, các bác sĩ Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, cho rằng, với loại virus này, việc dùng bao cao su tỏ ra không hữu hiệu. Tuy nhiên hiện nay, phương pháp thử nghiệm tế bào cổ tử cung đã có thể giúp phát hiện ung thư ngay từ lúc bệnh mới hình do virus HPV. Chính vì thế, những phụ nữ đã có quan hệ tình dục hoặc trong độ tuổi dễ nhiễm bệnh, cần đến các bệnh viện chuyên khoa phụ sản mỗi năm ít nhất 1 lần để thăm khám để sớm khắc chế lây lan.

Theo một số bác sĩ, tính đến thời điểm hiện nay, uống văcxin có chức năng chống nhiễm và tái nhiễm virus HPV vẫn được xem là phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất. Tại Việt Nam, Gardasil và Cervarix là hai loại văcxin có thể khắc chế được đến 99% sự tấn công của HPV gây ung thư cổ tử cung.

Thiên Chương



Ung thư cổ tử cung: 80% do HPV
Theo TS. Nguyễn Bá Đức, giám đốc Bệnh viện K TƯ, có nhiều tác nhân dẫn đến ung thư trong đó có nguyên nhân từ nhiễm virus; ví dụ, H.pylori lag loại virus có thể dẫn đến ung thư dạ dày và HPV là virus dẫn đến ung thư cổ tử cung. Đây cũng làm một trong 2 loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ Việt Nam (gần 80% trường hợp là do virus HPV).

Cao gấp đôi số phụ nữ chết vì AIDS

TS Đức giải thích HPV - Human papilloma virus có hơn 100 chủng - là loại virus gây mụn cơm, mụn cóc và các sùi mào gà (các u nhú) ở da, dương vật, âm hộ, hậu môn..., dẫn đến viêm da lành tính, hoặc viêm cơ quan sinh dục dẫn đến vô sinh. Đáng lưu ý là có đến 13 chủng dẫn đến ung thư. Bệnh này thường xuất hiện ở phụ nữ có quan hệ tình dục sớm với nhiều người, vệ sinh kém, suy giảm miễn dịch trong quá trình sinh đẻ, nạo hút hay sẩy thai nhiều lần.

Những tổn thương này làm giảm sức đề kháng của cơ thể và tạo điều kiện cho virus HPV dễ dàng xâm nhập với lớp tế bào đáy cổ tử cung, vốn nằm sâu bên dưới và được bảo vệ bằng tế bào lát tầng (loại tế bào vẩy). Sau khi xâm nhập, virus HPV sẽ ẩn nấp trong nhiều năm thậm chí hàng chục năm rồi gây biến đổi các tế bào này và biến chúng trở thành các tế bào ác tính nhưng khi đã có biểu hiện bệnh, thời gian sống sẽ rất ngắn (tương tự như ung thư cổ tử cung giai đoạn muộn).

Theo điều tra của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9-13%, như vậy tổng số phụ nữ nhiễm loại virus này là 630 triệu. Tỷ lệ cao nhất thấy ở các nước Châu Phi (trên 40%). Tại Việt Nam, trong 10 năm qua có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, cao gấp đôi số phụ nữ chết vì bệnh AIDS; Qua số liệu ghi nhận từ một để tài nghiên cứu thí điểm, số phụ nữ nhiễm HPV ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội là 1,8% và phụ nữ ở 1 quận tại TPHCM là 10%.

Sắp có vac-xin ngăn ngừa

TS Nguyễn Bá Đức cũng cho hay, ở giai đoạn đầu, khi các tế ung thư phát triển mạnh, bệnh nhân thường không có dấu hiệu lâm sàng, có thể ra nhiều khí hư hơn bình thường, khám phụ khoa cũng không thấy tổn thương. Nhưng nếu thường xuyên khám phụ khoa đúng định kỳ và làm xét nghiệm tế bào, bệnh sẽ được phát hiện. Lúc này, khả năng chữa khỏi là 95%.

Khi ung thư ở giai đoạn phát triển mạnh, các triệu chứng sẽ mới rõ rệt như ra khí hư có mùi hôi, ra máu giữa kỳ kinh, sau mãn kinh hay sau giao hợp... Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân thường bị đau bụng dưới, đau lưng và tử vong rất nhanh. (Tỷ lệ sống thêm 3 - 5 năm chỉ còn khoảng 5%).

“Một thực tế đáng buồn là ở nước ta, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện bệnh ở giai đoạn cuối, tức là chỉ vài năm trước khi qua đời. Nguyên nhân là do phụ nữ Việt Nam ít có thói quen thăm khám phụ khoa đều đặn. Trong khi đó, quá trình diễn tiến từ nhiễm virus đến ung thư thường lâu dài, từ loạn sản nhẹ, vừa, nặng đến ung thư tại chỗ (giai đoạn tổn thương có thể phục hồi và chữa khỏi hoàn toàn) đến ung thư xâm lấn (không có khả năng phục hồi).

Chính vì vậy, để ngăn ngừa căn bệnh nguy hiểm này những phụ nữ đã có quan hệ tình dục thường xuyên, quan hệ sớm, nạo hút, sinh nở hay sẩy thai nhiều lần..., ngoài việc giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, nên làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo hằng năm hay tối thiểu 3 năm một lần, đặc biệt là những người ở độ tuổi gần 40”, GS. TS Nguyễn Vượng, chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, khuyên.

Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ cho biết, Viện đang làm thủ tục thử nghiệm vac-xin HPV phòng ung thư cổ tử cung, âm hộ và âm đạo. Loại vac-xin này có tên là Gardasil, dạng tiêm. Nó đã được sử dụng ở nhiều nước với hiệu quả khoảng 70%. Dự kiến cuối năm nay, vac-xin này cũng sẽ được thử nghiệm ở Việt Nam trên một số phụ nữ tuổi 9-26.

Thanh Trầm

 



7 Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thu?
Sốt - Ớn lạnh - Ra mồ hôi ban đêm - Sụt cân - Chán ăn - Mệt mỏi - Cảm giác khó chịu trong người .

7 triệu chứng sau đây thường gặp ở bệnh nhân ung thư:

Sốt - Ớn lạnh - Ra mồ hôi ban đêm - Sụt cân - Chán ăn - Mệt mỏi - Cảm giác khó chịu trong người .

Các triệu chứng và dấu hiệu nghi ngờ ung thư ngoài 7 triệu chứng như trên nếu kèm theo:

  1. Ho kéo dài, đau ngực, ho ra máu (nghi ngờ ung thư phổi),
  2. Thay đổi thói quen đại tiện, tiêu bón, tiêu chảy xen kẽ, tiêu có chất nhày nhớt hoặc có máu (nghi ngờ ung thư đại trực tràng),
  3. Ăn mau no, đầy hơi, đau thượng vị (nghi ngờ ung thư dạ dày),
  4. Sốt kéo dài, đau hạ sườn phải, vàng mắt, vàng da nhẹ (nghi ngờ ung thư gan),
  5. Chảy máu âm đạo bất thường (nghi ngờ ung thư cổ tử cung),
  6. Vết bầm xuất huyết dưới da (nghi ngờ bệnh bạch cầu),
  7. Nuốt nghẹn (nghi ngờ ung thư thực quản),
  8. Nhức đầu, mờ mắt, co giật (nghi ngờ ung thư não),
  9. U cục ở vú, núm vú tụt vào hoặc tiết dịch bất thường (nghi ngờ ung thư vú),
  10. Tiểu có máu, tiểu khó, tinh dịch có máu (nghi ngờ ung thư tiền liệt tuyến, ung thư thận, ung thư bàng quang, ung thư tinh hoàn)
  11. Đau lâm râm vùng hạ vị ở phụ nữ (nghi ngờ ung thư tử cung hoặc buồng trứng) v.v.
  12. Nốt ruồi hoặc mụt cóc thay đổi hình dạng hoặc lớn nhanh bất thường, vết lở loét ở ngoài da không lành (nghi ngờ ung thư da, ung thư hắc tố melanoma)
    (Các) nguồnBS Đồng Ngọc Khanh

 



Người trẻ bị ung thư "tấn công"
Người trẻ bị ung thư
Cầm kết quả xét nghiệm mắc ung thư vú giai đoạn 3A, chị Q. choáng váng. Chị Q. đâu ngờ chưa đầy 30 tuổi chị đã mắc căn bệnh ung thư quái ác. Những trường hợp như chị Q. không phải hiếm. Bệnh ung thư đang ngày càng có dấu hiệu trẻ hoá.

Mới qua 1/3 cuộc đời đã mắc ung thư

Đã 11h trưa, Khoa Nội 2 nằm trên tầng 4 của Bệnh viện K Trung ương vẫn đông bệnh nhân đợi khám, truyền hóa chất. Dãy hành lang chật hẹp, người đông cộng với mùi thuốc men khiến không khí càng ngột ngạt. 

Trong phòng khám, các bác sỹ Khoa Nội 2 không có thời gian nghỉ ngơi, hết bệnh nhân vào khám, tư vấn, truyền hóa chất rồi hồ sơ bệnh án. Bên ngoài, bệnh nhân ung thư ngồi kín cả ghế đợi, người mới phát hiện bệnh thì đang ngồi đợi bác sĩ khám tư vấn, người nặng hơn thì đợi truyền hóa chất. Những gương mặt mệt mỏi, đau đớn, đầu trọc lốc do hóa chất làm rụng hết tóc ngồi khắp nơi.

Bước ra từ phòng khám, chị N. T. Q., 27 tuổi ở Hà Nội thẫn thờ. Chị không ngờ tế bào ung thư lan nhanh đến thế. Mới phát hiện ung thư vú mà đã sang giai đoạn 3A (một giai đoạn nặng của ung thư).

Ngồi sụp xuống ghế bên ngoài phòng khám, chị Q. nói với người đàn ông đi cùng: "Các bác sĩ nói còn nước còn tát. Bệnh này nhiều người trẻ tuổi cũng mắc, không phải đã hết thuốc chữa".

Theo lời kể của BS Đỗ Kim Anh (Khoa Nội 2) đang trực tiếp điều trị cho bệnh nhân Q., gần 1 năm trước, chính bệnh nhân này tự phát hiện u ở vú mình bằng cách sờ nắn bằng tay. Sau khi phát hiện ra u, bệnh nhân đã không đi khám ngay mà để đến tận bây giờ mới đi bác sĩ kiểm tra. 

"Hiện ung thư của Q. đã ở giai đoạn 3A. Đối với trường hợp của Q. chúng tôi sẽ tiến hành mổ cắt hết toàn bộ vú và điều trị hóa chất. Nếu kết quả điều trị tốt, sau 5 năm không có dấu hiệu di căn tái phát coi như đã khỏi. Tuy còn trẻ nhưng rất may Q. đã có con nên việc cắt bỏ hai bên vú không ảnh hưởng gì" - BS Anh cho biết.

BS Kim Anh cho hay, trước đây ung thư, nhất là ung thư vú, tử cung chỉ gặp ở những người trung cao tuổi, nhưng nay đã có cả những bệnh nhân còn trẻ. Trong khi đó, ở nam giới ung thư phổi cũng thường gặp.

Cũng đang ở độ tuổi của bệnh nhân Q., chị H.T.P., 28 tuổi ở Nghệ An cũng bị ung thư vú ở giai đoạn T4. Dù mới phát hiện ra vài tháng nhưng tế bào ung thư phát triển nhanh. BS Kim Anh cho biết, đối với bệnh nhân P. phải điều trị hóa chất trước rồi mới mổ. Sau khi phẫu thuật sẽ theo dõi để có hướng điều trị tiếp.

Không chỉ ung thư vú, mà ung thư tử cung cũng xuất hiện ở người trẻ tuổi. BS Kim Anh nhớ lại một trường hợp vừa kết thúc đợt điều trị. Đó là bệnh nhân P.T.N., sinh năm 1979 ở Nam Định bị ung thư tử cung. N. lấy chồng từ năm 18 tuổi, đến khi phát hiện bệnh thì đã có 3 con.

Rất may, N. phát hiện ra ung thư ở giai đoạn 2B, tế bào ung thư mới ở tử cung chưa xâm lấn sang các bộ phận xung quanh. Sau một thời gian tia xạ phối hợp với hóa chất hiện sức khỏe N. tiến triển khả quan.

BS Kim Anh cho biết, trước đây, mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng qua quá trình điều trị các bác sĩ nhận thấy ung thư thường gặp ở tuổi trung niên 45-50 tuổi trở lên. Nhưng hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa, tăng lên trong giới trẻ chưa lập gia đình.

Đối với nữ thanh niên bị ung thư vú, cổ tử cung, buồng trứng... đang có xu hướng gia tăng. Nam thanh niên cũng mắc ung thư vòm họng khi mới 20 thậm chí 14, 16 tuổi.

Mắc ung thư chưa phải đã "lĩnh án tử hình"

Theo thống kê của Bệnh viện K từ những năm trước, mỗi năm cả nước có khoảng 150.000 ca ung thư mới mắc và 75.000 ca chết vì bệnh ung thư. Tuy nhiên, không phải cứ mắc ung thư là đã mang "án tử hình". Có nhiều bệnh nhân đã chiến thắng với căn bệnh này.

Bác sỹ Lê Thành Đức, Phó trưởng Khoa Nội 2, Bệnh viện K Trung ương cho biết, nhiều bệnh nhân phát hiện sớm ung thư và chữa đúng bệnh đã có hiệu quả cao.

Hiện BS Thành đang điều trị cho bệnh nhân mới 17 tuổi nhưng đã mắc ung thư hạch 5 năm nay. Đó là trường hợp của bệnh nhân Nguyễn Việt D. ở HD.

Năm 2003, D. nổi nhiều hạch ở cổ và được sinh thiết với kết luận ung thư tuyến giáp. Sau một thời gian theo đuổi chạy chữa, hiện hạch đã được lấy hết và D. đang được điều trị bằng hóa chất.

Sức khỏe của D. có biểu hiện tiến triển tốt và D. vẫn đi học bình thường mà không hay biết mình bị bệnh ung thư.

"Có tới 70% bệnh nhân ung thư vú đến viện khi đã ở giai đoạn muộn, bệnh đã có biểu hiện di căn hạch hoặc di căn xa. Tế bào ung thư từ khi hình thành đến khoảng 1cm thì phát triển chậm, nhưng khi đã 1cm thì phát triển rất nhanh. Do đó, cách tốt nhất để có thể điều trị ung thư thành công là phát hiện bệnh sớm và chữa kịp thời" - BS Kim Anh nói.

Đối với những người trẻ tuổi, việc kiểm tra sức khỏe định kỳ cũng hết sức quan trọng. Quá trình kiểm tra giúp phát hiện ra bệnh sớm. Các bác sĩ cảnh báo, khi bị phát hiện ung thư, đặc biệt là ở giới trẻ sẽ gặp phải khó khăn về tâm lý trong quá trình điều trị. Điều đó cũng dễ hiểu bởi họ còn trẻ, còn tương lai nên việc điều trị để có kết quả tốt sẽ là áp lực về tâm lý.

Lệ Hà

 



Phòng ung thư cổ tử cung khi còn trẻ
Bạn có biết một người phụ nữ có tới 70% nguy cơ nhiễm vi rút u nhú (HPV), một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh ung thư cổ tử cung nguy hiểm. Tuy nhiên, phòng tránh bệnh hiệu quả là điều hoàn toàn có thể làm được.

1. Sống chung thuỷ 1 vợ 1 chồng


Trên thực tế, nếu một người phụ nữ có nhiều bạn tình, khả năng lây nhiễm vi rút HPV càng cao. Họ có thể lây nhiễm vi rút này từ người đàn ông này hoặc người đàn ông khác. Hãy chung thuỷ 1 vợ 1 chồng là cách phòng tránh an toán các căn bệnh lây lan qua đường tình dục như HIV/AIDS, viêm gan B, vi rút HPV…

 

Tại nước ta hiện nay, ung thư cổ tử cung (UTCTC) vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số các loại UT và cũng là loại UT thường gặp nhất trong các loại UT ở cơ quan sinh dục nữ.

Các yếu tố thuận lợi:

 

- Giao hợp sớm trước 17 tuổi


- Giao hợp với nhiều người


- Sinh đẻ nhiều lần


- Viêm sinh dục do siêu vi khuẩn Herpes Simlex và Human Papilloma Virus (HPV). Hiên nay đã có vaccin chích ngừa HPV.


Ngoài ra UTCTC còn liên quan đến các yếu tố khác như: suy giảm miễn dịch, yếu tố nội tiết, giống nòi, tình trạng kinh tế xã hội, nghiện thuốc lá, thực phẩm thiếu sinh tố A, folic acid, các bệnh lây lan qua đường tình dục.

2. Không quan hệ sớm


Quan hệ sớm (ở tuổi dậy thì) là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi rút HPV. Cơ thể của các em gái trong giai đoạn này tự bảo vệ rất kém trước sự tấn công của các vi rút gây bệnh. Các bệnh lây lan quan đường tình dục ở lứa tuổi này cũng nhanh hơnh do các màng nhầy đang ở giai đoạn vô cùng nhạy cảm.


3. Bao cao su không thể tránh được lây nhiễm vi rút HPV tuyệt đối


Bạn nên nhớ bao cao su không phải là biện pháp tối ưu giúp bạn miễn nhiễm với loại vi rút này vì trên thực tế không không chỉ sống trong màng nhầy mà còn sống ở cả trên da.


4. Không hút thuốc lá


Ngay cả khi không bị nhiễm vi rút HPV, thuốc lá cũng tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cho người sử dụng. Trên thực tế, các chất trong thuốc lá sẽ ngấm vào máu và sẽ được bài xuất ra cổ tử cung, tạo môi trường thuận lợi cho bệnh tật phát triển. Càng hút nhiều thuốc, người sử dụng càng gặp nhiều nguy cơ mắc bệnh. Những phụ nữ đã hút thuốc hoặc đang hút thuốc có nguy mắc ung thư cổ tử cung cao hơn 2 – 3 lần so với những phụ nữ chưa bao giờ hút thuốc lá.


5. Không nên dùng viên tránh thai hooc-môn


Nếu sử dụng viên tránh thai hooc-môn trong một thời gian dài, chị em có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên loại thuốc tránh thai này lại làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư khác như ung thư buồng trứng…


Theo thống kê tại Pháp, cứ 1.000 người dùng biện pháp tránh thai này thì có 4,5 người bị ung thư cổ tử cung, trong khi đó tỉ lệ này ở những chị em không dùng viên tránh thai hooc-môn là 3,8/1.000 người.


6. Nói không với rượu


Rượu không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cho người dùng, mà còn tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư khác: ung thư gan, ung thư dạ dày…


7. Tiêm vắc-xin trước lần quan hệ đầu tiên


Các nhà nghiên cứu cho biết, tiêm vắc-xin phòng bệnh trước lần quan hệ đầu tiên cho phép chị em phòng bệnh được tới 70% nguy cơ. Nhiều năm sau cần phải tiêm lại, tuy nhiên cho đến nay hiệu quả của loại vac-xin này kéo dài trong ít nhất là 4 - 5 năm.


8. Thăm khám phụ khoa định kỳ


Ngay cả khi bạn đã tiêm vắc-xin, hãy đến khám bác sỹ phụ khoa theo định kỳ. Bác sỹ sẽ cho bạn những lời khuyên hữu ích về cách phòng tránh và nhận biết dấu hiệu của bệnh. Phát hiện ra bệnh sớm cũng là một trong những điều kiện quan trọng giúp việc điều trị bệnh nhanh và hiệu quả.

 

Theo Dân Trí - Santé


Vaccin phòng ung thư cổ tử cung: 100 USD/1 mũi tiêm
Đây là loại vaccin phòng ung thư cổ tử cung do virus Human Papiloma Virus (virus HPV) gây ra. Loại vaccin này ở dạng tiêm, đã được sử dụng ở nhiều nước với hiệu quả khoảng 70%.

Dự kiến cuối năm nay, vaccin này cũng sẽ được thử nghiệm và sử dụng ở Việt Nam sẽ là một biện pháp hữu hiệu phòng chống căn bệnh ung thư do virus HPV gây nên.

Vaccin này có khả năng chống lại ung thư cổ tử cung tới 98%. Vaccin HPV thường được tiêm cho trẻ em từ 9 - 11 tuổi (một số nước trên thế giới thì tiêm cho nữ giới ở lứa tuổi từ 9 - 26 tuổi). Khi loại vaccin này được sử dụng tại Việt Nam, sẽ chủ yếu triển khai tiêm cho trẻ nữ từ 11 - 13 tuổi.

Tiêm vaccin HPV từ lứa tuổi vị thành niên, từ khi các em chưa có quan hệ tình dục sẽ rất có hiệu quả phòng bệnh sau này. Vì không phải cứ đến tuổi trưởng thành là có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung, mà việc tiêm vắc xin có giá trị phòng ngừa hàng mấy chục năm sau.

Tuy nhiên, loại vaccin này hầu như không có tác dụng phụ nên cũng được dùng khá phổ biến ở phụ nữ ở tất cả các lứa tuổi. Thậm chí khi mang thai vẫn có thể tiêm loại vaccin này mà không gây ảnh hưởng đến thai nhi.

Tuy nhiên, giá của loại vaccin này khá đắt, trung bình từ 100 USD/1 mũi tiêm (liều tiêm đầy đủ gồm 3 mũi). Theo dự định, loại vaccin này sẽ được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia nếu được các tổ chức quốc tế tài trợ.

Trước mắt, để phát hiện sớm và phòng căn bệnh nguy hiểm này, chị em phụ nữ ngoài việc giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, sinh hoạt tình dục lành mạnh, thì cần tạo thói quen đi khám phụ khoa định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa bởi ngoài virus HPV vẫn còn rất nhiều tác nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung.

 



Việt Nam lưu hành vaccine phòng ung thư cổ tử cung
Trước mắt, trong năm nay, loại vaccine này sẽ được dùng để tiêm cho phụ nữ ở độ tuổi từ 9 đến 26, với mức giá 1,9 triệu đồng/mũi. Mỗi người cần được tiêm đủ 3 mũi.

Theo Cục quản lý Dược, Bộ Y tế, vaccine phòng ung thư cổ tử cung mang tên Gardasil vừa được cấp phép lưu hành tại Việt Nam.
Loại vaccine này có dạng bào chế dung dịch tiêm bắp, được sản xuất tại Mỹ, có hiệu quả rất cao trong việc dự phòng ung thư cổ tử cung do vi rút Human Papiloma gây ra, đặc biệt hiệu quả khi tiêm cho bé gái trước tuổi có quan hệ tình dục.

Bộ Y tế đã yêu cầu các đơn vị nhập khẩu lưu hành vaccine này phải báo cáo định kỳ với các cơ quan quản lý có thẩm quyền về quá trình nhập khẩu, lưu thông, sử dụng, đặc biệt là tính an toàn và hiệu quả của vaccine tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam những năm qua cho thấy, ung thư cổ tử cung là bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ với tỷ lệ mắc mới là 20,3/100.000 người. Tỷ lệ mắc bệnh cao trong các nhóm phụ nữ làm nông nghiệp, hoặc những người sinh hoạt tình dục sớm, sinh con sớm, nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục.Việt Nam hiện chưa có chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung một cách hệ thống, mới chỉ dừng lại mức mức độ riêng lẻ tại các tỉnh, thành phố nên chưa có số liệu thống kê chung trong cả nước. Việc xét nghiệm tế bào để phát hiện bệnh cũng mới chỉ được thực hiện tại các bệnh viện ở những tỉnh, thành phố lớn



Các phương pháp điều trị ung thư
Bài viết mang đến cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về điều trị ung thư.

Khái niệm chung:

Việc điều trị ung thư là rất quan trọng trong chương trình Phòng chống ung thư ở mọi quốc gia. Muốn nâng cao chất lượng điều trị, không chỉ hoàn chỉnh về kỹ thuật của mỗi phương pháp, thiết bị, mà còn phải có kinh nghiệm, kiến thức; chẩn đoán thật chính xác, xây dựng phác đồ điều trị cho mỗi bệnh nhân một cách hợp lý nhất, thông thường phải phối hợp làm việc trong một tập thể các thầy thuốc chuyên khoa.

1- Các phương pháp điều trị tại chỗ: Phẫu thuật và Tia xạ: Có khả năng điều trị triệt để khi bệnh còn ở giai đoạn sớm, tổn thương ung thư chỉ khu chú ở tại chỗ hoặc tại vùng. Nếu ung thư đã di căn xa, chúng ta có thể vẫn phải dùng phẫu thuật hay tia xạ để điều trị tạm thời hoặc giải quyết các triệu chứng.

2- Các phương pháp điều trị toàn thân: Điều trị hoá chất (dùng thuốc chống ung thư), điều trị nội tiết (dùng nội tiết tố hoặc dùng kháng nội tiết tố), điều trị miễn dịch (làm tăng sức đề kháng của cơ thể để diệt tế bào ung thư). Các phương pháp này có tác dụng trên phạm vi toàn cơ thể, vì vậy điều trị hoá chất chỉ thường được áp dụng điều trị cho những ung thư có tính chất toàn thân hoặc đã lan rộng.

Điều trị phẫu thuật:

Phẫu thuật triệt để: Cắt rộng, lấy toàn bộ khối ung thư và một phần tổ chức lành bao quanh u. Nếu có hạch vùng khả nghi di căn, cần vét toàn bộ hạch vùng với mục đích không còn để sót lại tế bào ung thư. U, hạch và phần tổ chức lành xung quanh được lấy gọn thành một khối. Phẫu thuật triệt để có khả năng chữa khỏi nhiều loại ung thư khi còn ở giai đoạn sớm (ước lượng khoảng 1/3 tổng số ung thư), nhất là đối với các bệnh ung thư: Vú, Cổ tử cung, Khoang miệng, Da, Giáp trạng, Ống tiêu hóa. . .

Phẫu thuật tạm thời: Chỉ định trong một số trường hợp ung thư đã lan rộng, nhằm mục đích tạm thời làm giảm nhẹ u, làm sạch sẽ, mở thông đường thở, đường tiêu hoá, tiết niệu, cầm máu, chống đau…

Phẫu thuật với mục đích khác: Nhằm kết hợp trong điều trị nội tiết để hạn chế ung thư phát triển như cắt buồng trứng để điều trị ung thư vú, cắt tinh hoàn để điều trị ung thư tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật tạo hình, phục hồi chức năng sau điều trị triệt để. . .

Điều trị tia xạ:

Điều trị tia xạ là dùng tia phóng xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư. Cùng với phẫu thuật, tia xạ là một trong hai phương pháp điều trị ung thư phổ biến nhất và hiệu quả nhất.

Điều trị tia xạ đơn thuần có thể chữa khỏi nhiều loại ung thư khi còn ở giai đoạ khu cư trú tại chỗ - tại vùng, nhất là trong các bệnh ung thư hạch bạch huyết, ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư vòm họng, một số ung thư vùng đầu cổ…

Điều trị tia xạ phối hợp với phẫu thuật thường được áp dụng trong nhiều trường hợp khi ung thư đã phát triển tương đối lớn hơn. Có khi tia xạ trước mổ nhằm giảm bớt thể tích u để dễ mổ, hạn chế di căn xa trong lúc mổ, có khi tia sau mổ nhằm diệt nốt những tế bào ung thư còn sót lại sau mổ. Có khi tia xạ cả trước mổ cả sau mổ hoặc tia xạ phối hợp với hoá chất để tăng khả năng diệt tế bào ung thư tại một khu vực mà điều trị hoá chất không đủ khả năng diệt hết. Việc lập kế hoạch điều trị tia xạ cẩn thận, chi tiết làm cho việc tiêu diệt tổ chức ung thư tối đa mà ít ảnh hưởng đến tổ chức lành xung quanh. Tuy vậy, tia phóng xạ không chỉ diệt tế bào ung thư mà có thể diệt luôn tế bào lành ở vùng bị chiếu gây ra các biến chứng (nếu sử dụng liều lượng không thích hợp hoặc kỹ thuật chiếu không đúng. . .).

Có 3 phương pháp điều trị bằng tia xạ:

  • Tia xạ từ ngoài vào (máy Cobalt, quang tuyến X, máy gia tốc), đây là phương pháp áp dụng rộng rãi nhất.
  • Tia xạ trong (ống, kim radium, máy Afterloading nguồn Cobalt60, Cesium, Yridium, sợi Yridium…) đặt vào các hốc tự nhiên của cơ thể (tử cung, âm đạo, các xoang…) hoặc cắm vào các tổ chức mang ung thư.
  • Thuốc có gắn đồng vị phóng xạ: Uống hoặc tiêm các thuốc có đồng vị phóng xạ (I 131) hoặc kháng thể đặc hiệu có gắn đồng vị phóng xạ để diệt tế bào ung thư trong quá trình chuyển hoá và kết hợp chọn lọc.

Điều trị hoá chất:

Là phương pháp dùng thuốc (các hoá chất chống ung thư) để chữa bệnh, thường được áp dụng để chữa các ung thư của hệ thống tạo huyết (bệnh bạch cầu, U limphô ác tính…) hoặc ung thư đã lan tràn toàn thân mà phẫu thuật và tia xạ không có khả năng điều trị được.

Hoá chất có thể điều trị triệt để rất tốt với các loại ung thư rất nhạy cảm với hoá chất như ung thư tinh hoàn, ung thư nhau thai (Choriocarcinome), ung thư tế bào mầm của buồng trứng, và một số ung thư nguyên bào ở trẻ em, ung thư hạch bạch huyết. . .

Hoá chất hỗ trợ cho phẫu thuật và tia xạ: Trong một số trường hợp ung thư đã lan rộng (ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư phần mềm. . .).

Hoá chất điều trị tạm thời (ít dùng): Áp dụng cho ung thư đã lan tràn toàn thân nhưng ít nhiều có nhạy cảm với hoá chất, điều trị nhằm mục đích kéo dài cuộc sống hoặc tạm thời có cảm giác dễ chịu. Điều trị hoá chất không chỉ giá thành hiện nay còn đắt mà thông thường thuốc có nhiều tác dụng độc hại, ví nó như sử dụng con dao hai lưỡi. người thày thuốc chuyên khoa hoá chất phải biết mức độ nhậy cảm thuốc của tế bào ung thư, từng vị trí và giai đoạn bệnh, sức chịu đựng của từng bệnh nhân để chọn thuốc thích hợp hoặc phối hợp nhiều loại thuốc để có tác dụng tối đa trên ung thư và giảm độc hại tối thiểu đối với cơ thể.

Điều trị nội tiết:

Có một số loại ung thư điều trị bằng nội tiết có tác dụng lui bệnh tốt, vì vậy được sử dụng như một phương pháp phối hợp với các phương pháp điều trị khác.

Điều trị nội tiết có thể bằng cách:

  • Dùng các nội tiết tố (Hóc-môn): Các dẫn chất Corticoid, hay dùng trong phác đồ điều trị ung thư máu, ung thư hạch bạch huyết, testosteron trong điều trị ung thư vú, nội tiết tố nữ Oestradiol, progesteron trong ung thư tuyến tiền liệt…
  • Cắt bỏ tuyến nội tiết: Cắt buồng trứng trong ung thư vú, cắt tinh hoàn trong ung thư tuyến tiền liệt.
  • Dùng thuốc ức chế sản xuất nội tiết tố hoặc ức chế, cạnh tranh tác dụng của nội tiết tố trên tế bào ung thư (Tamoxiphen kháng oastrogen trong điều trị ung thư vú), các antiaromatase (Arimidex, Femara… ức chế sản xuất oestrogen).

Điều trị miễn dịch:

Trong khoảng 20 năm gần đây, những hiểu biết về hệ thống miễn dịch ngày càng tiến bộ, nhiều người đã sử dụng các cytokin và kháng thể đơn dòng có khả năng điều hòa hoạt động của hệ miễn dịch trong điều trị ung thư và một số bệnh lý khác. Các chất miễn dịch không đặc hiệu có nguồn gốc sinh học như: BCG và Carynebacterium barvum đã được sử dụng trên thực nghiệm và trên người. Các chất kích thích miễn dịch không đặc hiệu có nguồn gốc hoá học như LH1… cũng đang được nghiên cứu.